Thứ Hai, 25 tháng 10, 2010

Quan buồn ?

Các quan ở Ta bây giờ cũng biết buồn câu chuyện tưởng như đùa  nhưng đó là sự thật. Quan Lớn buồn nhất Tôi xin chia  sẻ đó là bác Nông Đức Mạnh Tổng Bí Thư, và Bác Nông Quốc Tuấn Bí thư tỉnh ủy Bắc giang vì một người vừa mất vợ,  một người mất mẹ.  Phu nhân đã ra đi âm thầm như cuộc đời của bà , ở một vùng rừng núi sơn thủy hữu tình, tôi không trách cứ các báo chí đã đưa tin ngắn ngũi và chưa trang trọng, bởi vì có thể bà muốn như vậy. nhưng điây là nỗi buồn riêng của cá nhân, khép lại tại đây. Cầu chúc cho linh hồn bà được siêu thoát ở cõi vĩnh hằng.
 Nỗi buồn mà tôi muốn nói đến đó là của các quan của TKV, đang bị các bác nhân sĩ, trí thức, tướng lĩnh, chính trị gia ... cũng kí đơn tập thể, mặc dù quan to đã cấm khiếu kiện đông người, nhưng đám này to quá các quan chả làm gì được, đây chính là một đòn giáng mạnh vào uy của những người chấp bút soạn thảo ra quyết định này, và nó đương nhiên trở thành đống giấy vụn, đó chính là nỗi buồn lớn nhất của các quan chính phủ trong những ngày này. Đã không thể cản  được lòng yêu nước, và dân tộc trong những người có lương tri khi nhìn thấy thảm họa Boxit tại  Hung- ga-ri , và nếu chúng ta tiếp tục xây dựng cá nhà máy này theo công nghệ thải ướt thì hậu quả nhãn tiền đã nhìn thấy trước lúc đó thì các quan còn hơi sức đâu mà buồn vì cũng đã trăm tuổi rùi.
Bác quan Lê Dương  Quang Thứ Trưởng  bộ công thương đã phát biểu trên diễn đàn VNR500 đại ý rằng tôi rất buồn nếu dự án bị rừng , nhưng bác Dương à nều các hồ chứa bùn đỏ đó mà kết hợp với lũ kiểu của miền trung vừa qua thì , người dân Việt Nam sẽ được xem một màn biểu diễn nghệ thuật được kết hợp rất nhiều màu sắc và chất độc, tạo nên một bức tranh đau xót mãi cho ngàn  năm  không phai  trong tầm trí người việt, vì vậy bác không nên buồn làm gì vì nếu điều này xảy ra thì bác là điển hình của tội nhân thiên cổ đó.

Thứ Bảy, 23 tháng 10, 2010

điều muốn nói của mùa xuân

 Entry dành tặng cho hoa bách hợp
Mùa xuân là khơi nguồn của sự sáng tạo và tình  yêu, nhưng đứng trước tình yêu lứa đôi thì hoa nhường, và nguyệt thẹn để dành cho tình yêu đôi lứa, bởi vậy mùa thu làm xao xuyến tâm hồn, mùa đông lạnh giá sẽ qua nhanh để mùa xuân đâm  trồi và nảy lộc :
Mưa xuân rơi lắc rắc 
Lộc còn láu trên cành 
Hỏi bạn lời e ấp 
Bao giờ xuân mới xanh
Từ ngàn xưa để lại những câu chuyện tình yêu thật cảm động như Thúy kiều và Kim trọng qua áng thơ  thiên tài của Nguyễn Du, đó là một tình yêu trong sáng đâu kể sang hèn.
Có muôn cớ để tự dưng… yêu nhau. Người ta bảo là tình yêu thoảng qua, tình yêu sét đánh. Các bác  nhà thơ vốn đa cảm, đa tình đã làm cho tình yêu vốn đẹp càng lung linh, huyền ảo, càng lôi cuốn, hấp dẫn.
tựa như Phùng quán viết :                   
                                                           
                                                             Trái-thơ chín nhiều đến nỗi
Mỗi đêm tôi thức giấc nhiều lần
Đêm quên ngủ

Ngày quên ăn
Rượu như lửa tôi uống tràn thay nước
Chắc chỉ một ngày thôi
Tôi sẽ ngã gục
Dưới chân em
Chết kiệt sức vì thơ!…
Vũ Hoàng Nam- ông giáo làm thơ- kể nỗi  niềm của chàng trai khi ra biển nhớ người yêu ở nơi xa:
Thế là xa cách mênh mông
Anh ngồi ôm biển vào lòng tương tư.
Không có em, anh đành ngồi ôm nước ở biển để cho gần gặn nhau, để thấy em như đang bên anh. Ôi chao, nhớ thương nhau đến thế là cùng.
Nhà thơ Xuân Diệu một thi sĩ về thơ tình đã thốt lên:
Yêu là chết ở trong lòng một ít
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu
Cho rất nhiều song nhận chẳng bao nhiêu
Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết

Phút gần gũi cũng như giờ chia biệt
Tưởng trăng tàn, hoa tạ, với hồn tiêu
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu
- Yêu, là chết ở trong lòng một ít 
Và một nhà thơ mà tôi ngưỡng một nhất đó là Nguyễn Bính một nhà thơ có một tình cảm rất đặc biệt với dân tộc, ông đề cao giá trị tình yêu thuần khiết của người con gái nông thôn :


Van em, em hãy giữ nguyên quê mùa
Như hôm em đi lễ chùa
Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh
Hoa chanh nở giữa vườn chanh
Thầy u mình với chúng mình chân quê
Hôm qua em đi tỉnh về
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều
Thơ ông biểu hiện cảnh quê, thắm được tình quê, hồn quê nước Việt với một sắc thái lãng mạn. Người ta gặp trong thơ Nguyễn Bính những hình ảnh bình dị, thân quen: hàng cau, giàn trầu, cây bưởi, thôn Đoài, thôn Đông,.. Hình ảnh những cô thôn nữ trong trắng, những chàng trai quê chất phác luôn được Nguyễn Bính mô tả trong tình yêu lãng mạn nhưng đều dang dở, chua xót đã đi vào lòng độc giả nhiều thế hệ Việt Nam.
Điều Anh muốn nói với mùa xuân là đã là tình yêu đôi lứa thì không thể chia cắt và  không thể chia ly, chúng ta đang sống  trong thời kì toàn cầu hóa vì vậy , cho dù với không gian và khoảng cách như thế nào, đều có thể đến với nhau bằng tấm lòng, chân thành, hiểu biết tôn trọng nhau thì trái ngọt của mùa xuân sẽ đến cho những người biết nâng lưu và trân trọng  đón nhận nó.

Phản văn hóa dịch

Trong một buổi tối hoành tráng lễ bế mạc liên hoan phim Quốc tế lần thứ nhất tổ chức tại Việt nam, bác Lại Văn Sâm đã trở thành trò hề trong  mắt bạn bè quốc tế, khi trổ tài dịch tiếng anh của Diễn viên Ngô Ngạn Tổ , tình huống này đã có sẵn trong kịch bản, nhưng bác này lại chê phiên dịch nhà đài, hoặc của ban tổ chức, đã tự mình dịch và chúng ta được xem một show diễn vô cùng thú vị kiểu như ông nói gà bà nói vịt, làm xấu hổ mặt những nguời có biết đôi chút về tiếng anh ở Việt Nam.
Tình huống gây sốc này lại rơi đúng vào đầu một xếp ở Đài tuyền hình trung ương, một kẻ luôn tự cho mình giỏi hơn tất cả phần còn lại của nhà đài, rất nhiều chương trình do bác này phụ trách đã mời những bác giáo sư cỡ như Lê văn Lan, hoặc bác Dương "tàu", và một số bác GS dỏm trong các chương trình của nhà đài, có những tư vấn phản khoa học, và trà đạp nên văn hóa của quá khứ cha ông với những cứ không thuyết phục .
Chả biết sau vụ này Bác Lại Văn sâm có lên công luận để Xin lỗi hay không nếu có là một hành động dũng cảm để rút kinh nghiệm, còn nếu không thì rõ là một kẻ cơ hội truyền thông điển hình, và là một cái tát đau đớn nữa của những người làm Đài truyền hình Trung ương bộ mặt của quốc gia vào khán giả yêu truyền hình . Kể ra dân báo hình  cũng đau ra phết qua vụ này .

Thứ Sáu, 22 tháng 10, 2010

Vắng đi một ý thức

Kỷ niệm 20 năm ngày mất của họa sĩ Bùi Xuân Phái,gia đình họa sĩ(Bùi Thanh Phương) cùng 2 nhà sưu tập Trần Hậu Tuấn và Bùi Quốc Chí tổ chức cuộc triển lãm mang tên Bùi Xuân Phái-Con Đường Hội Họa tại 87 Thuốc Bắc.Nhân dịp này ra mắt giải thưởng Bùi Xuân Phái và giới thiệu cuốn sách mới về danh họa do Bùi Thanh Phương và Trần Hậu Tuấn biên soạn.
Sau đây Phương giới thiệu bài viết của Thái Bá Vân cách đây đã 20 năm.Theo ông Vân cho biết thì bản thảo đầu tiên của bài này ông viết trong đêm trước ngày làm lễ tiễn đưa họa sĩ sang một thế giới khác. Thái Bá Vân đã thức trắng cả đêm để chuẩn bị bài điếu khóc bạn ,nhưng rất tiếc trên đường đi,không may đã làm rơi mất ở dọc đường.Đêm hôm đó ,ông Vân viết lại bản khác và ngày hôm sau ,trong nước mắt,ông Vân đã đọc bài này trước bàn thờ Bùi Xuân Phái.Thái Bá Vân ngoài đời có hình dong rất artist, và cũng hao hao giống Bùi Xuân Phái. Ông Thái Bá Vân cũng đã đi sang thế giới khác sau bạn mình vài năm.

Nói theo nghĩa nào đó, Hà Nội lên đến 2 triệu người. Mà nói theo nghĩa nào đó, Hà Nội bao giờ cũng chỉ có dăm ba người, chia nhau trong từng tình yêu và thế kỷ.

Làm sao nói được giản đơn rằng đứng trong số 2 triệu người kia, hay đứng trong số dăm ba người này, là hơn hay là thiệt, là rủi hay là may, là sướng hay khổ.

Bùi Xuân Phái ở đâu? Điều đó không quan trọng mấy. Quan trọng và công bằng hơn, an tâm hơn là không ai tự chọn được cho mình thân phận cả. Chỉ biết con cá nhỏ mấy cũng thích tụ về bơi lội giữa những dòng sông lớn, không con nào ưa nước đọng, ao tù.

Hà Nội là một dòng sông lớn và Bùi Xuân Phái là một ý thức trẻ trung.

Nghệ thuật và danh nhân phải có cái hạnh phúc được đầu thai, rồi nuôi cấy và dập vùi, ở những trung tâm và thời đại to tát. Anh Phái bé bỏng thôi. Nhưng là một bé bỏng riêng biệt, không thể nào thay thế. Cuộc rong chơi can đảm, lầm lì của người đó bằng cây bút vẽ và bằng bảng màu của mình là đẹp và có ý nghĩa cho Hà Nội. Cho chúng ta mãi mãi. Làm chứng cứ lịch sử cho một nền hội họa đi nữa,sao bằng làm chứng cứ nhân văn cho một ý thức nghệ thuật.

Ở đám tang Bùi Xuân Phái, tôi rất để ý một vòng hoa lớn, chưa từng thấy ở những cuộc chia tay long trọng khác. Vòng hoa ấy ký tên: “Những người yêu nghệ thuật”. Anh Phái thật là sang, Hà Nội thật là sang.

Anh Phái mắc bệnh vẽ. Ngồi đâu vẽ đấy, bạ gì vẽ nấy. Nhìn theo mà vẽ, thuộc lòng mà vẽ. Vẽ thực, vẽ bịa, vẽ cho đến chết. Mảnh giấy cuối cùng không để lại của anh (anh đã vò xé đi) là hình vẽ mấy người bệnh nằm chung phòng ở nhà thương. Sự vẽ của anh chỉ có thể gọi bằng câu nói của chính anh, với tôi một lần, là “Vẽ để mà không vẽ” là đúng hơn cả.

Thế mà Hà Nội – Phố của anh đôi khi lớn, nặng, lâu bền, vượt ra ngoài cuộc đời tác giả. Chúng là giọt máu của cả nền văn hiến Thăng Long mà trong đó anh là một sắc mặt thì đúng hơn. Từ khi có Bùi Xuân Phái, tôi chưa thấy ai vẽ Hà Nội mà không vương vào anh. Con tính hội họa của anh đã đến một mẫu số chung nhỏ nhất rồi.

Làm sao ta biết được một con người, nói chi là nghệ sĩ. Trong nhiều năm được làm bạn với anh, cái may mắn của riêng tôi là đã biết quý mến và chăm chú vào những bâng quơ ngắn ngủi, vào những chi tiết rất nhỏ trong một ngày thường của anh. Tôi tiếc gì những định nghĩa lớn lao mà thật ra tìm đâu cũng thấy. Tôi phải biết ơn anh, những người như anh đã thức tỉnh ở tôi một thức tỉnh dai dẳng, nhẹ nhàng khó tả về nghệ thuật, như cái thế giới buồn buồn đậm đặc trong từng nét vẽ của anh.

Bùi Xuân Phái đã vẽ những bức tranh ngon lành, đẹp đẽ tưởng như trực giác hội họa là nằm ngay trong trí tuệ phát minh. Cái bản năng sinh sản cụ thể ở anh đã nằm ngay trong trí tưởng tượng hồn nhiên, một cuộc hôn nhân chỉ có ở những tài năng lớn.

Bức sơn dầu cuối cùng của anh vẽ một ngày tháng 4 năm 1998 đang treo ở bàn thờ anh, là Ngõ Huyện. Ta thấy ngay căn nhà lặng lẽ là nóc Nhà thờ Hà Nội. Hai bức tranh cuối cùng anh cho tôi, giữa tháng 6 năm 1998, là hai cái khoả thân bé bỏng trong lòng bàn tay, một vẽ trên vỏ thuốc lá Gauloises của Pháp và một trên vỏ Gallant của Ấn Độ.

Nhìn vào đời người, hình như có những năm tháng là bó buộc quá cho sự vẽ của Bùi Xuân Phái. Nhưng nhìn vào tác phẩm, Phái là hoàn toàn tự do trong cử chỉ sáng tạo. Anh đã vẽ nhiều bức tranh ngay trước mắt tôi, lơ đãng, hồn nhiên như đứa trẻ nghịch cát. Những khi đó, tôi cứ nghĩ tác phẩm kia nó tự xuất phát trong anh chứ không có can thiệp của một sự đẻ ra nào bởi anh cả. Nghĩ về một tác phẩm ra đời, cũng như đứa con, tôi còn thấy sự có thể ở lại là nằm trong một trái ngược. Là niềm vui hay nỗi khổ. Nó bay đi như tự do hay nó đọng lại như định mệnh cũng là.

Người nghệ sĩ nào cũng chỉ như chiếc sợi phiêu bồng, cố luồn cho lọt vào tấm vải nghệ thuật chung đã chật cứng dọc ngang. Cái nhu cầu phải vào được giữa hài hoà và trật tự chung đó lại chưa dẫn ai thẳng tới kết quả bao giờ. Bởi các ngõ lối đều như ma chơi, khi ẩn, khi hiện, khi chặn đứng mọi nẻo ra vào. Thế cho nên, người có nhân cách tử tế và chân thành (như con nít) và giờ cũng có cái mặc cảm lầm đường hay tha hoá.

Mảnh nhật ký của Bùi Xuân Phái có ghi một câu của nhà điêu khắc hiện đại, Brancusi, bằng tiếng Pháp: “Quand nous ne sommes plus enfants, nous sommes dèjà morts” (Khi chúng ta không còn là trẻ con nữa, thì chúng ta đã chết rồi). Lại ở một mảnh khác có hình, anh vẽ chân dung họa sĩ Cézanne và ghi một câu của ông này, cũng bằng tiếng Pháp: “Le monde ne me comprend pas. Et moi, Je ne comprends pas le monde. C’est pourquoi je me suis retiré” (Đời không hiểu ta và ta không hiểu đời. Vậy cho nên, ta xin thu mình lại).

Từng thế kỷ có định mệnh của nó. Tôi nghiệm một điều, nhiều lần thấy trong lịch sử nghệ thuật, là cứ vào cuối thế kỷ, lại xảy ra những cuộc chia tay lớn.
Đừng hiểu là buồn, cũng đừng hiểu là vui.

Với nhiều cuộc ra đi khác trong vài năm nay, tôi có cái linh cảm đang đứng trước sự kết thúc của một vòng quay tất yếu.
Thái Bá Vân
nguồn Blog Bùi Thanh Phương

Sự cô đơn của đọc

Văn hóa đọc dần bị thay thế bằng văn hóa đọc miệng người khác nói. Từ chỗ mượn mắt của người khác đọc hộ, nghe người khác nói, đến chỗ mượn cả trái tim và khối óc của người khác nghĩ hộ mình, rung động hộ mình, chỉ là một bước ngắn.
Đọc bao giờ cũng là tự làm cô đơn mình.

Giữa thời đại văn hóa thị giác, người ta chợt hay nhắc đến văn hóa đọc như một đối trọng. Thực sự là hai cái ấy ít nhiều xung khắc với nhau. Văn hóa thị giác làm tươi mát đời sống bằng những biểu hiện bên ngoài của thế giới như màu sắc, hình ảnh và âm nhạc. Còn văn hóa đọc thì trầm lắng, tạo ra sự đa thanh bằng chiều sâu của những tầng tri thức. Một bên như cái tán sum suê, sinh cành đẻ lá. Một bên cứ âm thầm hút nhựa từ đất, càng miệt mài đằm sâu, càng cô đơn.

Đọc có nghĩa là được cô đơn. Khi thưởng thức các loại hình nghệ thuật gắn với môi trường diễn xướng như kịch, âm nhạc, người thưởng thức buộc phải chung sống với số đông. Những ý kiến và nhu cầu tranh luận nảy sinh ở họ phần nhiều là trực tiếp. Còn khi đọc, ta sống trong một thế giới siêu không gian, siêu thời gian, cách ly với mọi hệ lụy bên ngoài.

Ta cảm nhận những điều sách nói bằng cảm giác của thân thể. Bởi sự tuyệt đối "chân không" ấy mà sự đọc khiến độc giả chìm sâu vào một thế giới của riêng mình. Không phải không có những người đọc choáng ngợp trước sách để rồi không thu nạp được gì nhiều ngoài sự hoang mang. Nhưng, đọc đúng hướng và đúng tầm thì cũng như hạt mầm gieo xuống đất. Nó chìm sâu để rồi tự vươn lên như một cái cây, tạo cho con người một phẩm chất đọc riêng, có thể gọi là nhân cách đọc.

Đã có một thế giới khác khi cầm trang sách, tất chúng ta có một địa vị cho mình trong thế giới ấy. Sự đọc dẫn đến sự phân loại độc giả trong mối tương giao với sách, điều người ta hay gọi là “sách kén người”.

Việc người đọc tự phân loại mình là một vận động biện chứng, tự thân, độc lập với sự chia luồng độc giả của người viết sách và giới làm sách nhằm tới lợi nhuận thương mại. Đọc để tự biết mình và làm khác mình bằng sự khác biệt về bản sắc và quan điểm về thế giới. Đọc là được cô đơn, cô đơn để có sự khác biệt và độc lập trong suy nghĩ.
Với sách văn chương, sự cô đơn có nguồn gốc sâu xa ở chỗ, mỗi người đọc có một thể nghiệm riêng với tác phẩm, một tương tác riêng với nó. Người ta làm một cuộc phiêu lưu vào sách, sống cuộc đời nhân vật trong sách, và hơn hết thử làm chủ nhân một thế giới khác, với trật tự lôgích của riêng nó.

Với những cuốn sách thuộc các lĩnh vực khác, sự cô đơn thể hiện thông qua chính kiến và quan điểm riêng của người đọc. Nếu không tự xây dựng định hướng tư duy cho mình thì dù có cập nhật bao nhiêu tri thức cũng vẫn là anh thủ kho kiến thức mà thôi.
Sự định hướng ấy là bản lĩnh tiếp nhận. Bản lĩnh tiếp nhận là một biến thể của sự cô đơn - sự cô đơn của cá nhân từ chối hòa tan vào bầy đàn một cách thiếu suy nghĩ.

Một câu hỏi đặt ra: Nếu đọc để đạt đến sự cô đơn, liệu có phải những kẻ đọc sách đều là nhưng người lập dị không? Ngày nay đang tồn tại giữa chúng ta một cách đọc mang tính bầy đàn, dựa vào quan điểm đánh giá của một số nhà điểm sách. (Về sự đáng ngờ của các quan điểm đó - sự chênh lệch giữa giá trị ảo được thiết lập nhờ các bài điểm sách trên báo với giá trị thực của cuốn sách, thiết tưởng chúng ta sẽ cần tiếp tục bàn nhiều vào những lần khác).

Thay vì tự tạo cho mình một chính kiến văn hóa, một thái độ độc lập, người ta buông mình theo sự a dua đến mức kinh ngạc. Số đông ấy tuy có âm lượng to, dung lượng lớn, nhưng chỉ là hiện tượng nhất thời. Họ bị những mốt này mốt nọ “cưa đổ" như quân bài đôminô mà không hay cái sự ấy khởi phát từ đâu.

Con người bị cuộc sống hiện đại lấy mất khoảng thời gian tự tại, đi đến chỗ ỷ lại vào những giá trị văn hóa tinh thần thập cẩm, pha loãng, không cần phải mất công sức cũng có được.

Văn hóa đọc (sách) dần bị thay thế bằng văn hóa đọc miệng người khác nói. Từ chỗ mượn mắt của người khác đọc hộ, nghe người khác nói, đến chỗ mượn cả trái tim và khối óc của người khác nghĩ hộ mình, rung động hộ mình, chỉ là một bước ngắn. Liệu có phải vì vậy mà có nhiều người đọc mà chỉ có rất ít đôi mắt nội tại không? Chúng ta tự tước đoạt lá phiếu của chính mình hầu bỏ phiếu tín nhiệm cho mỗi cuốn sách để thay bằng sự áp đặt và đô hộ của những mốt đọc. Trong khi đó, sự cô đơn thực sự giúp người đọc có sự đánh giá của riêng mình. Càng cô đơn trong ý nghĩ, người đọc càng có nhiều thắc mắc và động lực đào sâu tìm kiếm mạch nguồn, tìm sự liên hệ bề sâu với cộng đồng những người đọc với đúng nghĩa của nó.

Chính sự cô đơn làm nên vẻ đẹp lấp lánh cho những cuốn sách.
P/S: Hiện nay ở Việt Nam khái niệm về Văn hóa thị giác, còn mới và đã đến lúc cần phải quan tâm và phổ biến rộng rãi
nguồn Tạp chí tia sáng

Thứ Năm, 21 tháng 10, 2010

quan lạ và dân mình quen

Có lẽ chưa bao giờ chúng ta được chứng kiến nhiều quan gần dân như trận lũ vừa qua ở miền trung, và cũng như bao lần các phương tiện truyền thông nước nhà tha hồ đưa tin, và những hình ảnh đẹp nhất về các quan được phổ biến toàn nhân tỷ như những bàn chân đât tuyệt đẹp lần đầu được phô ra,kể ra mấy bác nhà đài ra chiêu thật độc.
Và lạ nhất là một vị quan đầu thành phố thuộc loại to nhất nước vừa đắc cử với số phiếu bầu gần như tuyệt đối, với thành tích này thì quan bà Huỳnh Thị Nhân đã không còn chỗ trú chân ở Thành phố to này nữa, cho dù bà được các quan lớn đã nhắm gửi trước đó, vì vậy ở đây cho thấy hiện tượng đặc quyền, đặc lợi, nhóm lợi ích địa phương đã lên ngôi và rất khó can thiệp vào những nơi này, chả có thế vụ PCI ầm ĩ thế, vang ra tận quố tế mà bỗng chốc chỉ một bác Huỳnh Ngọc Sĩ cấp sở đang phải gánh tội một mình đó sao, kể cũng thương cho bác quan cấp thấp này chả biết than thở cùng ai, nhưng bác yên tâm ngày ra của bác không còn xa nưa đâu.
Việc bác quan của Tp to nhì nước đã quyết định dừng cuộc chơi pháo hoa lung linh của ngày cuối cùng đại lễ, đã cho thấy sức lan tỏa của truyền thông làm cho cả nước biết tình thần trách nhiệm với miền trung, và rất được lòng dân, làm cho bác to nhất cảm thấy chạnh lòng vậy bác quyết định du hí miền trung với trang phục của hai lúa, em thật cảm phục chiêu PR này của bác và đang giúp các quan này sẽ có những bước tiến dài trên con đường hoạn nộ của mình.
Nếu vậy trên con đường đi của nước Việt ta tới XHCN, kể cũng có nhiều quan biết lo lắng cho dân ghêvì, tiện cả đôi đường mà.
Nhưng em đồ rằng với những hành động lạ và phi thường này các bác này đang cho thấy sức ảnh hưởng của mình đối với cộng đồng theo tính chất thời vụ, thời điểm đang tiến dần về đại hội đảng theo hướng có lợi cho bản thân mình, để bảo đảm cho những vụ PCI, Vinasin, Đại Lễ, từ khủng long trở thành những chú thằn lằn ngoan ngoãn.và những đặc quyền cho những nhóm siêu quyền lực này trở thành hiện thực trong tương lai gần.

Thứ Tư, 20 tháng 10, 2010

mùa xuân cho em

Entry này dành tặng cho hoa bách hợp
Có những lúc trong một đoạn đường đời nào đó, một chút đắn đo, hờn dỗi làm ta mất đi nhiều cảm xúc đã dành tặng cho ai đó, điều này trong đời đôi khi ta gặp nhiều lần hoặc ít hơn, nhưng qua đó ta vẫn còn nguyên tuổi thanh xuân và con đường cho em rộng mở trước mắt, Quá khứ là một cái gì đó như trái cấm trên vườn địa đàng mà mong em gìn giữ riêng cho mình
Đấng thiên nhiên đã ban tặng cho con người bốn mùa, và trước mắt em là cả một mùa xuân tươi thắm ai đó lạc vào vườn xuân lòng luôn nhẹ nhàng và chân thành vì mùa xuân luôn cho ta tất cả những gì là tinh túy của trời đất, và hoa bách hợp là một điển hình của hoàng gia Pháp, và nói đến nước Pháp luôn là biểu tượng của sự lịch lãm và xa hoa. Lòng nhẹ nhàng thanh thản đến với mùa xuân sẽ đem lại cho chúng ta nhiều cung bậc của xúc cảm khác nhau nhưng đó điều khác biệt để đến với mùa xuân, hơi ấm của tình người sẽ xua tan băng giá của mùa đông lạnh giá, đó là quy luật của thiên nhiên và con người có bổn phận và trách nhiệm thực hiên nó, trong muôn vàn loài hoa đẹp lung linh của mùa xuân có lẽ giờ đây với ai đó hoa bách hơp là loài hoa thuần khiết nhất, đáng yêu nhất, đúng như những gì thiên nhiên ban tặng!!!